Chủ Nhật, 27 tháng 7, 2014

Món ăn ôn thận, tráng dương

Chuyện ấy hòa hợp, cùng nhau lên đỉnh sẽ là một trong những mấu chốt giúp các cặp vợ chồng thêm hạnh phúc và sống với nhau dài lâu hơn. Tuy nhiên, có nhiều bậc trượng phu rất muốn "yêu" nhưng lực bất tòng tâm vì nhiều lý do: công việc quá bận rộn khiến về tới nhà là họ chỉ muốn đặt lưng xuống ngủ, nhưng lý do quan trọng hơn cả là bị trục trặc về sức khỏe. Những món ăn dưới đây sẽ giúp các bà vợ lấy lại được phong độ cho chồng mình một cách dễ dàng.
Đuôi bò nấu đậu đỏ, củ sen, sở dương: đuôi bò 1 cái, đậu đỏ 100g, củ sen 500g, trần bì, sở dương, gia vị đủ dùng. Đuôi bò rửa sạch, chặt khúc, cho vào nước đun khoảng 15 phút, bắc ra để ráo nước. Đậu đỏ, trần bì ngâm nước. Củ sen rửa sạch, thái miếng. Bắc nồi nước lên bếp, đun cho sôi rồi bỏ tất cả các thứ trên vào nồi nước, vặn nhỏ lửa, hầm trong vòng 3 giờ đồng hồ, bắc ra nêm gia vị là dùng được. Món ăn có tác dụng bổ thận tráng dương, những người hay bị chóng mặt, ù tai, tính dục suy thoái, không còn ham muốn dùng rất thích hợp.
 Óc lợn.
Cật lợn nấu hoài sơn, khiếm thực: cật lợn 2 quả, hoài sơn, khiếm thực 100g. Cật lợn bổ đôi, loại bỏ màng gân trắng, rửa sạch. Hoài sơn, khiếm thực rửa sạch. Cho nồi lên bếp, đảo qua cật lợn rồi cho 2 vị thuốc trên vào, đổ nước sôi vào ninh tới khi cật lợn và các vị thuốc chín nhừ, nêm gia vị là dùng được. Món ăn có tác dụng bổ thận, bổ tích tủy tinh, có tác dụng tốt cho những ai bị suy nhược cơ thể, ăn uống không ngon miệng và không còn ham muốn chuyện ấy.
Óc lợn chưng táo đỏ: óc lợn 1 bộ, táo đỏ 4 quả, đẳng sâm, khương hoạt 10g, thăng ma, thần khúc 5g. Tất cả các vị trên rửa sạch, để ráo nước. Óc lợn rửa sạch. Đem các vị thuốc trên sắc lấy một bát thuốc cô đặc. Cho óc lợn vào bát thuốc đó, chưng cách thủy tới khi óc chín, nêm gia vị là dùng được. Ăn cả cái và nước. Món ăn có tấc dụng bổ thận, ích huyết, chữa chứng chân tay đau mỏi nhức, tinh thần bất an, không còn ham muốn tình dục.
BS. Cẩm Nga

Bệnh thận thường gặp ở người cao tuổi

Khi con người càng cao tuổi thì các bộ phận trong cơ thể càng bị lão hóa. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về sự lão hóa của thận ở người, người ta nhận ra rằng khả năng thích ứng của thận rất tốt đối với quá trình tích tụ tuổi của cơ thể. Khi có tuổi thì kích thước thận sẽ giảm đi, lưu lượng máu qua thận giảm và mức lọc cầu thận cũng giảm dần. Sự lão hóa của nhu mô thận đã dẫn đến thay đổi chức năng nội tiết và bài tiết nước tiểu của thận. Theo các chuyên gia niệu học thì người cao tuổi hay gặp 4 nhóm bệnh chính về thận gồm: nhiễm trùng đường tiết niệu, bệnh thoái hóa mạch máu thận, viêm cầu thận và suy thận.
Nhiễm trùng đường tiết niệu
Ở người cao tuổi có thể gặp cả nhiễm trùng tiểu trên (viêm thận bể thận, áp-xe quanh thận, áp-xe thận) và nhiễm trùng tiểu dưới (viêm bàng quang, viêm tiền liệt tuyến, viêm niệu đạo). Do đặc điểm ở người lớn tuổi hay gặp các rối loạn về tâm thần (sa sút trí tuệ) và tiểu không kiểm soát được nên nguy cơ nhiễm trùng đường tiết niệu cao hơn các nhóm tuổi trẻ hơn.
 Ảnh minh họa (corbis)
Thật ra, về mặt lâm sàng rất khó phân biệt nhiễm trùng tiểu trên hay dưới ở người cao tuổi, đôi khi không có biểu hiện lâm sàng nào đặc trưng cả. Biểu hiện lâm sàng thường gặp là sốt, đặc biệt lạnh run nên xem xét đến khả năng bị nhiễm trùng huyết. Một số trường hợp người cao tuổi lại bị hạ thân nhiệt. Có thể không sốt cao mà chỉ là nóng gay và ớn lạnh, đôi khi do sa sút trí tuệ nên không nhận biết được đang bị sốt. Trong trường hợp nhiễm trùng nặng có thể gây ra nhịp tim nhanh, thở nhanh và giảm số lượng nước tiểu. Thậm chí một số trường hợp có thể làm cho rối loạn tâm thần trầm trọng thêm. Ở nam giới có thể gặp tiểu gắt, tiểu buốt. Nếu là viêm tiền liệt tuyến ở nam thì có triệu chứng sốt, lạnh run, đau lưng và tầng sinh môn, dấu hiệu tắc nghẽn đường tiểu dưới, khám sẽ phát hiện tuyến tiền liệt sưng, đau. Có thể gặp tiểu ra nước tiểu lợn cợn hoặc có mủ dù không có triệu chứng gì khác.
Khi nghi ngờ bị nhiễm trùng đường tiết niệu dù vị trí nào cũng sẽ được chẩn đoán xác định bằng xét nghiệm nước tiểu. Tất nhiên, mẫu nước tiểu phải được lấy cho đúng, lấy nước tiểu giữa dòng sau khi vệ sinh lỗ niệu đạo ngoài và đựng bằng lọ vô khuẩn của cơ sở y tế. Soi nước tiểu trực tiếp để đếm số lượng bạch cầu và tìm sự hiện diện của vi khuẩn. Sau đó là cấy nước tiểu, nếu có trên 100.000 khúm vi khuẩn trong 1ml nước tiểu thì xem như bị nhiễm trùng, có thể định danh vi khuẩn gây bệnh và làm kháng sinh đồ để điều trị chính xác. Ngoài ra, người ta có thể xét nghiệm máu để thấy được sự tăng của bạch cầu trong nhiễm trùng, chụp X-quang hệ niệu, siêu âm hệ niệu…
Điều trị đặc hiệu cho nhiễm trùng đường tiết niệu chính là kháng sinh, tốt nhất là dựa trên kết quả khángsinh đồ. Tuy nhiên, phải mất nhiều ngày mới có kết quả kháng sinh đồ, vì vậy người ta khuyên điều trị theo kinh nghiệm rồi điều chỉnh khi có kết quả. Bệnh nhân không nên tự ý mua thuốc kháng sinh để dùng vì khả năng gây kháng thuốc rất cao. Trường hợp tiểu mủ hoặc máu phải đến bác sĩ chuyên khoa niệu khám ngay vì có thể có biến chứng. Nếu nhiễm trùng tiểu mãn tính không được điều trị thỏa đáng sẽ có thể đưa đến suy thận, ở người cao tuổi tình trạng suy thận sẽ diễn tiến xấu và rất nhanh chóng đến giai đoạn cuối.
Viêm cầu thận tiến triển nhanh
Trong nhiều công trình nghiên cứu cho thấy, số lượng người lớn tuổi trên 60 bị viêm cầu thận tiến triển nhiều hơn tuổi trẻ (qua sinh thiết thận hàng loạt để xác định tình trạng viêm cầu thận). Dù viêm cầu thận hay gặp ở người trẻ và trẻ em nhưng nếu xảy ra ở người lớn tuổi thì tiến triển rất nhanh và không hồi phục. Bệnh xuất hiện từ từ, thận sẽ suy giảm chức năng dần dần và thường kết hợp với thiểu niệu. Hay kết hợp với nhiễm trùng niệu. Triệu chứng chủ yếu là mệt, thiếu máu, cao huyết áp và đôi khi không có triệu chứng nào. Xét nghiệm nước tiểu cho thấy có nhiều hồng cầu (tiểu máu), nhiều đạm.
Xơ hóa mạch máu thận
Trong quá trình lão hóa của cơ thể, mạch máu toàn thân bị xơ hóa và mạch máu thận cũng không là một ngoại lệ. Chúng ta biết nhiều đến tình trạng xơ vữa mạch máu não gây tai biến mạch máu não, xơ vữa mạch vành tim gây ra bệnh lý mạch vành, còn xơ vữa mạch máu thận thì ít khi được đề cập đến. Trong các nghiên cứu cho thấy, có sự tương xứng giữa mức độ xơ vữa động mạch chủ bụng và tình trạng xơ vữa mạch máu thận. Xơ vữa động mạch thận sẽ đưa đến sự hẹp và gây ra triệu chứng. Triệu chứng hay gặp là cao huyết áp, giảm tưới máu nhu mô thận, giảm độ lọc cầu thận và cuối cùng đưa đến suy thận mãn. Người cao tuổi có hẹp động mạch thận, chỉ cần một yếu tố rối loạn nước điện giải xảy ra hoặc nhiễm trùng sẽ nhanh chóng đưa đến tình trạng suy thận mất bù.
Để phòng ngừa, người ta thường khuyên sinh hoạt và chế độ ăn uống theo dõi giống như người có nguy cơ bệnh mạch máu não hoặc bệnh mạch vành. Ngày nay, nhờ kỹ thuật chụp động mạch thận qua máy chụp mạch máu xóa nền (DSA) nên có thể dễ dàng xác định tình trạng hẹp mạch máu thận. Qua máy DSA có thể can thiệp đặt giá đỡ để chống hẹp động mạch thận.
Suy thận cấp ở người cao tuổi
Suy thận cấp ở người cao tuổi rất khác so với suy thận cấp ở người trẻ, cần phải được lưu ý kỹ càng hơn. Ở người có tuổi hay gặp tình trạng suy thận cấp trước thận, có nghĩa là tình trạng lưu lượng máu đến thận bị giảm. Ở người lớn tuổi hay gặp các yếu tố thuận lợi như: cung cấp nước không đầy đủ (do người cao tuổi hay quên, bị sa sút trí tuệ hoặc chăm sóc kém …), giảm cô đặc thận và ứ muối, giảm thể tích máu đến thận do hạ huyết áp (do dùng quá liều thuốc hạ áp hoặc lợi tiểu quá mức). Ở người cao tuổi là nam giới cũng hay gặp tình trạng suy thận do phì đại tiền liệt tuyến gây nghẽn tắc đường tiểu. Khác với người trẻ, suy thận cấp ở người lớn tuổi cần phải có thái độ xử lý tích cực bằng thẩm phân phúc mạc, hoặc lọc máu nhân tạo để tránh tác hại của tình trạng tăng ure máu và giảm nguy cơ bị nhiễm trùng.
BS. Đặng Minh Trí

Đông y trị chứng viêm thận - bể thận

Viêm thận - bể thận là bệnh viêm của tổ chức nhu mô thận do nhiễm khuẩn, là loại bệnh tiết niệu hay gặp có các triệu chứng lâm sàng chủ yếu là sốt, đau vùng thắt lưng và tiểu buốt, tiểu rắt. Bệnh hay gặp ở phụ nữ nhất là thời kỳ thai nghén. Trên lâm sàng chia hai loại: cấp và mạn tính. Đối với thể cấp tính, nếu điều trị tích cực phần lớn bệnh đều khỏi, một số ít kéo dài, tái phát nhiều lần mà chuyển thành mạn tính và có thể dẫn tới suy thận.
 Trạch tả.
Theo y học cổ truyền bệnh viêm thận - bể thận thuộc phạm trù chứng “lâm” hoặc chứng “yêu thống”.
Theo y học cổ truyền thì viêm thận - bể thận cấp và bán cấp có triệu chứng giống với các chứng nhiệt lâm, huyết lâm và khí lâm thực chứng, còn viêm thận - bể thận mạn có triệu chứng như chứng lao lâm và khí lâm hư chứng. Vị trí bệnh chủ yếu ở thận và bàng quang, bệnh lý chủ yếu là thận hư và thấp nhiệt. Ở thể cấp tính, chính khí không đầy đủ và tà khí thịnh nên bệnh lý chủ yếu là bàng quang khí hóa không thông lợi nên thấp nhiệt uất kết gây nên. Trường hợp viêm thận - bể thận mạn thì chính khí hư mà chủ yếu là tỳ thận khí hư, thấp nhiệt tà không đuổi đi được nên trên lâm sàng biểu hiện triệu chứng hư thực phức tạp.
Theo y học cổ truyền, thấp nhiệt độc xâm phạm thận bàng quang có thể là từ bên ngoài vùng âm hộ vệ sinh kém sinh thấp nhiệt độc, có thể do ăn nhiều chất béo ngọt tích tụ sinh thấp sinh nhiệt, hoặc do bệnh nhiệt, tâm hỏa hạ chú tiểu tràng ảnh hưởng đến bàng quang, hoặc do can khí uất sinh nhiệt, hoặc bệnh nhiệt các vùng khác trong cơ thể sản sinh thấp nhiệt tà hạ chú bàng quang gây chứng nhiệt lâm, nhiệt bức huyết hành sinh chứng huyết lâm, bàng quang khí hóa không thông lợi sinh các chứng tiểu nhiều lần, tiểu gấp, tiểu buốt hoặc tiểu có mủ.
Thận khí hư là do thiên tiên bất túc, do phòng dục quá độ, do sinh đẻ quá nhiều, do lao lực... thường có triệu chứng của lao lâm, cơ thể suy nhược, bệnh kéo dài, đau thắt lưng, mỏi gối, thận âm hư, can dương vượng sinh đau đầu, hoa mắt mờ mắt, chóng mặt, tăng huyết áp, bệnh nặng hơn dẫn đến thận dương hư, thấp trọc, thủy độc tích tụ nhiều trong cơ thể dẫn đến suy thận. Tỳ khí hư là do bệnh lâu ngày, thấp nhiệt khốn tỳ, do lo nghĩ nhiều, do lao động quá sức, ăn nhiều chất béo ngọt, rượu chè vô độ gây tổn thương tỳ, tỳ khí hư nên tiểu nhiều lần, mệt mỏi chán ăn, bụng đầy, tiêu chảy, sụt cân, khó thở sinh chứng lao lâm, khí lâm.
Đông y điều trị viêm thận - bể thận: Tùy thể bệnh mà dùng các bài thuốc cụ thể.
Thể bàng quang thấp nhiệt: Gai rét phát sốt, tiểu đau, tiểu gấp tiểu nhiều lần, bụng dưới đầy đau, lưng đau, rêu lưỡi vàng nhày, mạch nhu sác hoặc hoạt sác.
- Phép trị: Thanh nhiệt giải độc, lợi niệu thông lâm.
-Bài thuốc: Biển súc 15g, hoạt thạch 15g, cù mạch 12g, mộc thông 8g, chi tử 12g, kim ngân hoa 15g, liên kiều 12g, ô dược 10g, xa tiền tử 15g (bọc vào túi khi sắc), cam thảo 6g. Sắc uống ngày một thang.
Thể can đởm uất nhiệt: Sốt và rét xen kẽ, người khó chịu bứt rứt muốn nôn, chán ăn, lưng đau, bụng dưới đau, tiểu nhiều lần mà nóng, rêu lưỡi vàng đậm, mạch huyền sác.
- Phép trị: Thanh lợi can đởm, thông điều thủy đạo.
- Bài thuốc: Long đởm thảo 12g, sơn chi 12g, hoàng cầm 12g, sài hồ 12g, sinh địa 15g, trạch tả 12g, xa tiền tử (bọc vào túi khi sắc) 30g, mộc thông 8g, cam thảo 6g. Sắc uống ngày một thang.
Thể thận âm bất túc, thấp nhiệt đinh lưu: Tiểu nhiều lần, tiểu đau, sốt nhẹ, váng đầu, ù tai, mồ hôi trộm, họng khô môi táo, lưỡi đỏ không rêu, mạch huyền tế sác.
- Phép trị: Tư âm thanh nhiệt.
- Bài thuốc: Đơn bì 12g, phục linh 16g, trạch tả 12g, sơn dược 12g, sinh địa 16g, tri mẫu 12g, hoàng bá 12g, thạch hộc 16g, thạch vỹ 16g. Sắc uống ngày một thang.
Thể tỳ thận đều hư, thấp tà chưa hết: Ngoài các triệu chứng như thể thận âm bất túc nêu trên, thêm chứng phù mặt và chân, chán ăn bụng đầy, tiêu phân lỏng, mệt mỏi, rêu lưỡi trắng mỏng, lưỡi bệu sắc nhợt, mạch trầm tế vô lực.
- Phép trị: Kiện tỳ bổ thận thấm thấp.
- Bài thuốc: Đảng sâm 12g, bạch truật 12g, bạch linh 16g, đỗ trọng 12g, mộc hương 12g, trần bì 6g, cẩu tích 15g, ý dĩ nhân 20g, trạch tả 12g, cam thảo 6g. Sắc uống ngày một thang.
Chú ý: Trong điều trị bệnh viêm thận - bể thận, đối với viêm thận - bể thận cấp và thể cấp diễn của viêm thận - bể thận mạn đều thuộc chứng thực nhiệt do chức năng khí hóa của bàng quang rối loạn mà thấp nhiệt tà uẩn kết, cho nên phép trị là khu tà làm chính, dùng thuốc thanh nhiệt giải độc liều lượng phải lớn, mỗi ngày có thể dùng 2 thang sắc uống. Đối với viêm thận - bể thận mạn, bệnh kéo dài nhiều ngày, chính khí đã suy, bệnh thường hư thực phức tạp nên trong điều trị cần chú ý bổ hư và cần kết hợp tốt với các phương pháp điều trị theo Tây y.
BS. Lê Thu Hương

Bổ thận tráng dương bằng vị thuốc từ rùa

Theo Đông y, rùa còn có nhiều tên như kim quy, nguyên chư. Thịt rùa tính ôn (có tài liệu ghi bình, lương). Có nhiều tính năng công dụng được ghi trong các sách kim cổ đông tây: nói chung các bộ phận của rùa đều bổ thận, tư âm dưỡng huyết, lưu thông khí huyết khử ứ, mạnh gân cốt cơ nhục, trừ chứng nhiệt chưng. Dùng bồi dưỡng thần kinh, thể lực, lão hóa sớm, đi tiểu đêm nhiều, đái dầm, són đái, sa tử cung, lòi dom, trĩ ra máu, các bệnh viêm nhiễm ở bộ máy hô hấp (kể cả các loại lao), gan, thận, tiêu hóa, ngoài da (do huyết có nhiệt độc). Gần đây có nói đến tác dụng tăng cường miễn dịch, chống ung thư.

Rùa nước ngọt.
Nghiên cứu hóa học các sản phẩm của rùa có nhiều axit amin, chất khoáng, vitamin rất cần cho cơ thể có tác dụng dinh dưỡng và chữa bệnh cao. Trong y văn cũng như trong thực tiễn cho ta thấy nên dùng rùa vàng (ở đầu, chân và đường viền các ô có màu vàng nhạt). Trọng lượng trung bình khoảng 500g đủ ăn một bữa. Dùng rùa sống khỏe mạnh không dùng rùa ốm yếu, đã chết. Để làm chín thịt rùa có lời khuyên nên hấp cách thủy, ninh, hầm nhừ. Thịt rùa có thể nấu đơn thuần với gia vị hoặc nấu cùng dược liệu có tác dụng chữa bệnh mong muốn. Nếu dùng lần đầu tiên chú ý thăm dò phản ứng của cơ thể nhanh, chậm, tốt, xấu...
Sau đây là một số công thức để áp dụng có trong y văn kim cổ.
Huyết rùa: Dùng huyết rùa với đường lượng vừa ăn. Ngày 2 lần. Mỗi lần 4 thìa. Chủ trị viêm phế quản khó thở, ho khan.
Để bổ máu chữa thiếu máu dùng được cả huyết rùa biển 100ml uống nóng. Tuần vài lần, không hạn chế liệu trình. Kinh nghiệm ở Bình Định dùng rượu huyết rùa tỷ lệ 2 huyết 1 rượu.
Thịt rùa: Dùng làm thức ăn và dược thiện để bổ dưỡng và chữa một số bệnh.
- Bổ thận âm, an thần, ích trí: Rùa vàng 1 con (khoảng 240g làm sạch), hoàng tinh 30g, thiên môn đông 24g, ngũ vị tử 9g, táo đỏ vài quả bỏ hột. Tất cả cho vào nồi, thêm nước vừa đủ. Nấu lửa to cho sôi rồi giảm lửa, nấu tiếp khoảng 2 tiếng cho nhừ nêm gia vị.
- Tư âm dưỡng huyết, ích tâm thận, bổ phế tạng: Thịt rùa 60g, bách hợp 30g, đại táo 10 quả bỏ hạt. Gia vị nấu chung. Ăn cái uống nước canh.
- Tư bổ can thận chữa đau lưng mỏi gối, tăng huyết áp: Thịt rùa 10g, đỗ trọng 1-15g. Nấu chung ăn thịt, uống nước canh, bỏ bã đỗ trọng.
- Tác dụng bổ thận ích tinh dưỡng huyết chữa người gầy yếu xanh xao thiếu máu, luôn mỏi mệt mất sức, sốt âm ỷ, ho lâu ngày: Thịt rùa 750g, chân giò heo hun khói 30g, thái miếng 2 thứ thịt trên xào rán phi hành mỡ gừng cho nhanh, cho vào nồi ninh chân giò để được canh hơi đặc, nêm mỳ chính, ăn cái uống nước canh.
- Chữa gân cốt nhức mỏi: Thịt rùa 1 con vừa phải. Bột thiên hoa phấn, câu khởi tử mỗi thứ 6g, hoa hòe 15g. Nấu chung cho nhừ. Ăn thịt rùa, uống nước canh.
- Lao phổi, ho ra máu: Rùa 1 con vừa phải làm sạch với sa sâm, bạch cập mỗi thứ 10g. Nấu chung ăn thịt rùa với canh. Hoặc sa sâm với đông trùng hạ thảo đều 10g.
- Già yếu thận hư gây đi tiểu nhiều lần ban đêm, són đái: Rùa 1 con vừa phải, một ít thịt chó nạc, gừng, hành, vỏ quýt, rượu, gia vị đủ dùng. Nấu sôi hạ lửa ninh nhừ ăn.
- Bổ thận tráng dương, bổ khí huyết: Thịt rùa 200g, thịt dê 200g, đảng sâm 12g, đương quy 10g, câu kỷ tử 10g, rượu 20g, hạt tiêu bột 4g, đường phèn 15g, gừng 10g, hành, muối, mỳ chính.
Thịt thái nhỏ, thuốc cho vào túi vải. Xào qua thịt với rượu cho thơm chuyển sang nồi khác cùng các thứ còn lại nấu sôi nước rồi hạ lửa ninh nhừ ăn.
- Sa tử cung: Thịt rùa 120g thái miếng, thăng ma 12g cho vào túi vải. Nấu chung với 750ml nước, nấu sôi hạ lửa cho chín nhừ. Ăn thịt uống canh bỏ bã thuốc, ngày 2 lần.
- Ho dai dẳng kinh niên, phong thấp co quắp chân tay: Thịt rùa trộn men rượu, cất thành rượu uống.
Đầu rùa
- Chữa lòi dom, sa tử cung: Đầu rùa 2 cái sấy khô nghiền thành bột, chia 2 lần sáng tối. Uống với nước sôi liền 1 tuần.
- Bổ thận tráng dương: Đầu cổ rùa 1 cái phơi khô tán bột nấu với mỳ sợi, gia vị ăn ngày 1 lần, ăn liền 5 ngày.
Chân rùa
Chữa đau mắt đỏ: 4 cái chân rùa, đường trắng lượng vừa phải. Chân rùa nấu thành keo, cho đường vào. Ăn ngày 1 thang, liền trong nhiều ngày.
Trứng rùa: Để bổ dưỡng nấu chín ăn, uống rượu trắng với một lượng vừa phải.
Gan rùa: Nấu chín ăn chữa chảy máu đường ruột, trĩ.
Chú ý: Bài viết này chỉ nói phần rùa làm thức ăn uống. Rùa có phần yếm rùa (dưới bụng rùa) tên quy bản là một dược liệu làm thuốc quan trọng của Đông y, không thuộc phạm vi bài này.
Rùa là động vật quý hiếm nằm trong danh sách có nguy cơ diệt chủng cần được bảo vệ. Do đó chỉ nên dùng khi thật cần thiết và cần có kế hoạch nuôi phát triển tạo nguồn cung cấp dồi dào hơn như một số nơi đang làm là rất đáng hoan nghênh.
BS. Phó Thuần Hương

Người bệnh thận không nên ăn thức ăn giàu đạm

Bố tôi bị suy thận, người phù thũng. Xin hỏi bác sĩ, trong chế độ ăn uống có nên cho bố tôi ăn thức ăn chứa nhiều chất đạm?
Trần Thị Tin (Hải Dương)
Đối với người khỏe mạnh, protid (chất đạm) sau khi ăn sẽ được cơ thể hấp thu. Trong quá trình trao đổi chất, phần lớn chất cặn bã sẽ được thận thải ra ngoài. Nhưng ở người bị bệnh thận, chức năng thận bị suy giảm, khả năng thải loại sẽ kém đi. Nếu ăn uống không thích hợp, lượng chất thải trong cơ thể tăng lên sẽ trở thành gánh nặng cho thận, làm cho chức năng thận càng xấu đi và dẫn đến nhiễm độc nước tiểu, rất nguy hiểm. Do đó khi chức năng thận đã suy yếu, cần hạn chế thức ăn giàu protid để giảm gánh nặng cho thận. Tuy nhiên, có một số loại protid cơ thể không tổng hợp được mà phải lấy từ thức ăn, đó là “axit amin thiết yếu”. Khi chức năng thận kém cần theo nguyên tắc ăn giảm chất protid, nhưng vẫn phải bảo đảm đủ lượng axit amin thiết yếu. Những axit amin do cơ thể tự tổng hợp được thì có thể dùng các thức ăn thay thế khác. Như vậy sẽ làm giảm lượng chất cặn bã, rất có lợi cho việc bảo vệ thận, giúp bệnh không tiến triển nặng thêm. Muốn thế cần chọn loại thức ăn có chứa axit amin thiết yếu, có nguồn gốc động vật như: cá, trứng, thịt nạc, sữa... còn các loại thức ăn chứa nhiều chất đạm có nguồn gốc thực vật như sữa đậu nành, đậu phụ, chế phẩm thuộc họ đậu, chủ yếu chứa axit amin không thiết yếu, do đó người bị bệnh thận không nên ăn nhiều loại này.
BS. Bùi Thị Thu Hương

Lọc màng bụng trong điều trị suy thận mạn

Suy thận mạn - Bài toán khó chưa có lời giải
Suy thận là vấn đề ngày càng trở nên phổ biến, có tính toàn cầu không chỉ với người làm y tế mà còn với cộng đồng. Bệnh thận thường là nguyên phát hoặc xuất hiện thứ phát, trước đây là các bệnh do sỏi hay nhiễm khuẩn, sau này là các bệnh tim mạch, tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh chuyển hóa lipid, bệnh gút...
Số lượng bệnh nhân điều trị bệnh thận mạn không nhiều, ít so với nhiều bệnh khác, tuy nhiên chi phí về tài chính, đầu tư để điều trị, xét nghiệm chẩn đoán theo dõi thì lại lớn hơn rất nhiều.
Để phòng chống và điều trị được bệnh lý thận tiết niệu thì không chỉ ngăn chặn những bệnh gây ra tổn thương thận mà còn cần phát hiện bệnh sớm hạn chế những tổn thương thận.
 Hướng dẫn kỹ thuật lọc màng bụng cho bệnh nhân.
Chọn lựa cách điều trị Trước đây khi điều trị suy thận mạn người ta đặt song song cả vấn đề điều trị bảo tồn, lọc máu tại bệnh viện, ghép thận. Xu hướng chung là làm thế nào điều trị dự phòng và kéo dài thời gian suy thận nhẹ và vừa càng lâu càng tốt, thay vì vài ba năm lên tới 10-15 năm, làm giảm tải lượng bệnh nhân lọc máu. Mặc dù vậy ghép thận có những bất cập vì lượng người cần ghép cao, lượng người cho lại ít, dẫn đến cung không đủ cầu. Thứ nữa, đối với vấn đề lọc máu là tăng cường tự lọc máu và giảm số lượng lọc máu tại bệnh viện. Các thành phố lớn, các trung tâm y tế lớn không thể đảm nhận hết các bệnh nhân đến lọc máu. Mô hình “làng chạy thận" tại Bệnh viện Bạch Mai- Hà Nội là câu hỏi làm đau đầu các nhà quản lí cũng như các thầy thuốc. Do đó phải làm thế nào để xây dựng nhiều trung tâm tư vấn lọc máu. Làm sao mỗi tỉnh, thành phố đều có 1-2 trung tâm. Những trung tâm này gọn, nhỏ, linh hoạt, không cồng kềnh, đầu tư theo khả năng của từng địa phương trên cơ sở có thể mở rộng và phát triển. Một điểm nữa cần chú ý là làm sao các cơ sở này ở gần bệnh nhân để thuận tiện cho việc chăm sóc, theo dõi bệnh. Tăng cường việc đào tạo cho bệnh nhân có thể nắm được tình trạng bệnh và có thể tự điều trị được, có thể tự lọc máu tại nhà. Tất cả các nghiên cứu đều cho thấy, bệnh nhân lọc máu tại nhà, tự lọc máu có liều lọc, thời gian lọc phù hợp và thuận tiện hơn cho công việc và cho cuộc sống. Tư vấn và điều trị dự phòng bệnh nhân tốt sẽ giảm thiểu số lượng bệnh nhân phải lọc máu.
Lọc màng bụng là kỹ thuật có tính hiệu quả về nhiều mặt
Từ lúc chỉ 1-2 bệnh viện thực hiện thì nay đã có trên 10 đơn vị triển khai áp dụng kĩ thuật LMB. Hiện nay các bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp này chủ yếu tại Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108; Bệnh viện E ở khu vực phía Bắc, Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện 115, Bệnh viện Thống Nhất ở khu vực phía Nam. Điều đó đã chứng minh được tính hữu dụng, tính thực tế, tính xã hội của phương pháp này.
Ưu điểm chính của phương pháp này là đơn giản, dễ thực hiện và áp dụng cho nhiều nơi. Trong khi bệnh nhân chạy thận nhân tạo phải đến bệnh viện 15-16 lần mỗi tháng thì những người LMB chỉ phải có mặt mỗi tháng một lần để kiểm tra và lấy dịch lọc. Điều này rất quan trọng với những người ở xa trung tâm y tế, xa nơi có điều kiện chạy thận nhân tạo.
Về đào tạo cán bộ nhanh chóng hơn kĩ thuật thận nhân tạo và có thể thực hành kĩ thuật LMB sớm.
Ngoài các ưu điểm trên, một lý do quan trọng mà nhiều quốc gia lựa chọn phương pháp thẩm phân phúc mạc, đó là tính kinh tế. Để có một trung tâm thận nhân tạo cần đầu tư cho máy móc, hệ thống xử lý nước, phòng bệnh... rất tốn kém chưa tính tới chi phí cho những cán bộ y tế làm việc hằng ngày. Trong khi LMB chỉ cần một phòng điều trị gọn nhỏ và không cần thiết bị máy móc phức tạp.
Những khó khăn
Chúng ta cũng phải thận trọng với biến chứng của LMB. Vấn đề cơ bản nhất của LMB là biến chứng viêm phúc mạc. Để đảm bảo không viêm phúc mạc, phải vệ sinh môi trường thật tốt, người bệnh thao tác phải được đào tạo một cách kĩ càng và được kiểm soát một cách gắt gao. Tuy nhiên đa phần những người LMB là ở tỉnh xa. Với điều kiện của Việt Nam, dùng nước sạch chưa được phủ khắp, hơn nữa vấn đề ý thức giữ vệ sinh của chính chúng ta như rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh còn kém. Vì vậy nguy cơ nhiễm trùng vẫn còn.
Dịch lọc liên tục ngoài việc lấy đi những chất độc hại cũng mang theo protid và một số chất điện giải, vì thế bệnh nhân cần có một chế độ ăn giàu dinh dưỡng để bổ sung.
Ngoài lọc máu ra, người bệnh còn cần được điều trị toàn diện như tạo máu, hạ huyết áp, phòng ngừa nguy cơ tim mạch... Có như vậy mới đảm bảo chất lượng điều trị.
BS. Nguyễn Vĩnh Hưng (Khoa Thận - tiết niệu - Bệnh viện E)

Rau sam chữa bệnh tiết niệu


 Rau sam.
Rau sam tên khoa học Portulaca oleracea L. Đó là cây nhỏ mọc hoang xen lẫn với cỏ dại, nhưng nhân dân gọi "rau sam", chứ không gọi "cỏ sam", vì coi nó là một thứ rau ăn. Rau sam không có chất độc, có thể dùng nấu canh hoặc ăn sống. Các chất dinh dưỡng có trong rau sam nói chung cũng tương đương như nhiều loại rau ăn thông thường, nhưng đặc biệt hàm lượng vitamin E rất cao (10-12mg/100g rau sam) gấp 7 lần rau xà lách. Trong danh mục những cây thuốc của Tổ chức Y tế Thế giới có ghi cây rau sam dùng chữa được các bệnh thấp khớp, phụ khoa, giảm đau, lợi tiểu, trợ tim, trị sốt cao, giun kim, kích thích tiết mật...
Theo các tài liệu cổ: Rau sam vị chua, tính hàn, không độc, vào các kinh tâm, can và tỳ, có tác dụng giải độc, tiêu viêm, lợi tiểu, chữa lỵ ra máu, viêm khớp xương cấp tính, hậu môn sưng đau, trĩ, sưng tinh hoàn cấp tính, bạch đới (khí hư), các chứng lở.
Sau đây là một số bài thuốc hay được dùng:
- Chữa xích bạch đới (khí hư có nhiễm khuẩn, đục, dính...): dùng 100g rau sam tươi giã nát, vắt lấy nước, hòa với lòng trắng trứng gà hấp chín mà ăn. Ăn liên tiếp 3-5 ngày là khỏi.
- Chữa tiểu tiện ra máu: Hái rau sam nấu canh ăn hằng ngày, ăn liên tục 4-7 ngày là khỏi.
- Đái buốt: Dùng rau sam tươi giã nát, vắt lấy nước mà uống, bã xoa khắp cơ thể.
Ngoài ra, trong nhân dân còn hay giã nát rau sam tươi đắp lên mụn nhọt cho ngòi mụn dễ ra. Hoặc cho thêm nước đem sắc đặc, dùng bôi lên chỗ chốc đầu của trẻ em cho mau lành.
BS. Vũ Nguyên Khiết