Chủ Nhật, 27 tháng 7, 2014

Bệnh viêm cầu thận cấp có nguy hiểm?

Con tôi 12 tuổi bị phù và đi tiểu đỏ, được bác sĩ chẩn đoán viêm cầu thận. Xin hỏi bệnh con tôi có nguy hiểm không? Chữa như thế nào?
Nguyễn Thị Nhài (Hòa Bình)
Viêm cầu thận cấp là bệnh thường gặp sau nhiễm khuẩn, chủ yếu sau một bệnh nhiễm liên cầu tan huyết b nhóm A, như viêm họng, viêm amidal. Bệnh diễn biến lành tính, nhưng có thể gây ra các biến chứng nguy hiểm thậm chí tử vong. Trẻ mắc bệnh có các triệu chứng: phù nhẹ bắt đầu từ mặt đến chân; đi tiểu ít, tiểu ra máu ít hoặc nhiều; khám có tăng huyết áp từ 10 - 20mmHg; xét nghiệm nước tiểu có nhiều hồng cầu, protein niệu tăng... Bệnh nhân cần phải ăn nhạt trong thời gian từ 10 -15 ngày, hạn chế lượng nước uống tùy thuộc số lượng nước tiểu để giảm gánh nặng cho thận; cần được nghỉ ngơi tại giường; hằng ngày phải cân đo lượng nước tiểu, huyết áp; giữ ấm và vệ sinh răng miệng phòng nhiễm khuẩn hầu họng. Việc điều trị trước hết cần phát hiện và điều trị kịp thời các biến chứng nên cần được theo dõi tại bệnh viện. Đa số các trường hợp điều trị tại bệnh viện từ 10 -14 ngày khi hết các triệu chứng lâm sàng và xét nghiệm nước tiểu thuyên giảm được xuất viện nếu không có biến chứng.
BS. Trần Tất Thắng

Ai hay bị sỏi tiết niệu?

Sỏi đường niệu ngày một gia tăng
Sỏi đường niệu là hiện tượng kết sỏi ở đường tiết niệu bao gồm: sỏi thận, sỏi niệu quản, sỏi bàng quang và một số trường hợp có cả sỏi niệu đạo thường là do sỏi từ bên trên đi xuống. Bệnh hay xảy ra ở người lớn tuổi, ít xảy ra ở trẻ em và thường có tiền sử bệnh lâu dài qua nhiều năm. Theo nhiều thống kê của Tổ chức Y học Thế giới, bệnh ngày một gia tăng nhất là ở các nước nghèo và các nước đang phát triển. Bệnh lại rất hay tái phát. Chính vì vậy, bệnh sỏi đường niệu đã và đang là vấn đề quan tâm sâu sắc của nhiều người và của ngành y học.

 Sỏi thận.
Bệnh dễ gây ra tắc nghẽn đường tiểu và từ đó gây nên hiện tượng nhiễm khuẩn tiểu, nặng hơn có thể gây thận ứ nước và suy thận mạn, một biến chứng gây tàn phế suốt đời cho bệnh nhân. Ngoài ra, sỏi niệu nhất là sỏi niệu quản thường gây ra cơn đau quặn thận, đau đến nỗi mà ai bị một lần là nhớ đời. Cụ Nguyễn Du ngày xưa đã mô tả cảnh Kim Trọng gặp Thúy Kiều: “Khi tựa gối, lúc cúi đầu, khi kề khúc mặt khi chau đôi mày”. Có lẽ chẳng phải cảm động vì gặp nhau đâu mà vì Kim Trọng đang bị đau quặn thận do sỏi niệu quản đấy (NV). Đau quá không có biện pháp giảm đau nào hữu hiệu cả. Người mắc bệnh sỏi niệu lâu ngày nếu không được điều trị tốt sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe, lao động và sinh hoạt hằng ngày. Việc điều trị cũng khá tốn kém và là gánh nặng cho ngân sách bản thân, gia đình và xã hội.
Ai hay bị bệnh sỏi tiết niệu?
Bệnh sỏi đường tiết niệu hay xảy ra ở thận nhất, kế đó là sỏi niệu quản, sỏi bàng quang ít gặp hơn còn sỏi kẹt niệu đạo chỉ xảy ra ở đàn ông. Vì niệu đạo của đàn ông dài, sỏi khó thoát ra ngoài theo dòng nước tiểu.
Sỏi thường xảy ra ở đàn ông, với tỷ lệ 5 đàn ông mới có 1 phụ nữ mắc bệnh. Tuổi mắc sỏi niệu ở đàn ông trung bình từ 20 – 40 tuổi còn phụ nữ lại từ 25 – 40 tuổi. Tuy nhiên đến năm 55 tuổi trở lên, phụ nữ lại có nhiều người bị sỏi niệu. Nguyên nhân được các chuyên gia y học cho rằng do có sự thay đổi về nội tiết tố nữ và tình trạng loãng xương gia tăng ở lứa tuổi mãn kinh. Ở trẻ em, bệnh nhân mắc sỏi niệu thường dưới 10 tuổi, lứa tuổi từ 10 – 18 tuổi lại ít bị sỏi niệu hơn. Cũng chưa có lời lý giải nào khả dĩ chấp nhận được cho tình trạng trên.
Các chuyên gia về tiết niệu Trung Quốc nhận thấy rằng: sỏi niệu thường xảy ra ở người nông thôn hơn là người thành thị, những người sống ở các vùng ven biển và các vùng núi đá vôi, nguồn nước chứa quá nhiều canxi cũng dễ bị bệnh hơn các vùng khác.
Người ta thấy rằng những chủng tộc khác nhau có tỷ bệnh sỏi niệu khác nhau. Theo y văn thì những người da đen và những người ở vùng nhiệt đới có tỷ lệ mắc bệnh tương đối thấp. Có tới 30% bệnh nhân sỏi niệu có yếu tố di truyền trong gia đình. Có người cho rằng không có yếu tố di truyền trong gen của những người này mà do họ chung sống trong một gia đình, có cùng chế độ ăn uống và sinh hoạt cũng như lao động nên dễ phát sinh bệnh sỏi niệu. Tuy nhiên điều đáng lưu ý là sỏi niệu ở những bệnh nhân có yếu tố di truyền rất hay tái phát và thường khó điều trị.
Các yếu tố nguy cơ gây bệnh sỏi niệu
Sỏi niệu có liên quan khá mật thiết đến tình trạng khí hậu và thời tiết nơi sinh sống: khi khí hậu trở nên nóng bức, mồ hôi ra nhiều và nước tiểu bị cô đặc làm cho các tinh thể muối trong nước tiểu bị bão hòa và dễ bị kết tủa tạo sỏi trong thận hoặc bàng quang. Việc phát bệnh sỏi niệu cũng liên quan mật thiết đến mùa: mùa hè và mùa thu bệnh dễ mắc hơn mùa xuân và mùa đông. Việc uống nhiều thức uống chứa đường trong mùa hè cũng là nguyên nhân gây sỏi niệu.
Sỏi niệu có liên quan mật thiết đến nghề nghiệp của bệnh nhân: những người làm việc ở môi trường nắng nóng như thợ luyện kim, công nhân xây dựng, thủy thủ, những người làm việc trí óc căng thẳng như bác sĩ, nhân viên văn phòng... dễ bị mắc bệnh hơn những người làm nghề lao động phổ thông. Có những công trình nghiên cứu cho thấy bệnh sỏi niệu có liên quan đến các loại hormon gây stress ở người.
Chế độ ăn uống ảnh hưởng rất nhiều đến khả năng sinh bệnh, những người uống nhiều loại nước có chất canxi rất dễ bị bệnh, việc uống sữa quá nhiều cùng với các chất pha thêm vào sữa như melamin vừa qua cũng tăng nguy cơ gây bệnh vì tăng hàm lượng canxi hấp thu vào cơ thể. Uống ít nước, ăn quá mặn, ăn nhiều các thức ăn giàu canxi có mặt tốt nhưng cũng tăng nguy cơ bị bệnh lên cao.
Bệnh sỏi niệu có thể phòng ngừa được
Việc uống đủ nước, nhất là khi thời tiết quá nóng bức hoặc làm việc nặng trong môi trường có nhiệt độ cao, phòng tránh và điều trị tốt các bệnh nhiễm khuẩn đường tiết niệu, có một chế độ ăn hợp lý, không quá nhiều các sản phẩm có canxi và các chất có thể gây sỏi... là chúng ta có thể tránh được căn bệnh gây nhiều tác hại và đang là tiêu điểm của dư luận như hiện nay.
PGS.TS. Nguyễn Hoài Nam
(Đại học Y dược TP. Hồ Chí Minh)

Chữa sỏi thận bằng Đông y

BS. Nguyễn Đức Kiệt
Sỏi đường tiết niệu nói chung, sỏi thận nói riêng là một bệnh phổ biến ở nước ta. Các điều kiện thuận lợi cho việc hình thành sỏi tiết niệu là uống ít nước, ứ trệ nước tiểu, nhiễm khuẩn tiết niệu, thay đổi độ pH nước tiểu. Những viên sỏi nhỏ có thể tự ra ngoài theo nước tiểu. Những viên sỏi to nằm lại trong đài bể thận hoặc trong bể thận rồi phát triển to dần choán hết đài bể thận, gây ra những tai biến nghiêm trọng làm hủy hoại thận và các chức năng của cơ quan này. Bệnh có đặc điểm chung là thường có biến chứng nhiễm khuẩn, dẫn đến suy thận mạn tính rất nguy hiểm.

Hoa gạo.
Tùy theo thành phần hóa học, người ta thấy loại sỏi có calci (calci phosphat, calci oxalat, loại hỗn hợp cả oxalat và phosphat) và sỏi không có calci như acid uric, systin... Tùy theo vị trí của sỏi có sỏi thận (đài, bể thận), sỏi niệu quản và sỏi bàng quang. Dù loại sỏi nào thì sự hình thành sỏi thận cũng theo 3 giai đoạn: tạo nhân, dính các phân tử vào thượng bì đường niệu và lắng đọng, to dần thành sỏi. Các điều kiện thuận lợi cho việc hình thành sỏi tiết niệu là uống ít nước, ứ trệ nước tiểu, calci niệu tăng, citrat niệu thấp, pH niệu mất bình thường và nhiễm khuẩn đường tiết niệu. Người bị sỏi tiết niệu có một hoặc nhiều triệu chứng sau đây: đau, tức, nặng vùng thắt lưng, cơn đau quặn thận; đái ra máu, đái buốt, đái rắt, đái đục; có thể sốt và nếu để lâu, có thể có các biểu hiện của ứ nước, ứ mủ ở thận, đái ít, vô niệu hoặc suy thận cấp hay mạn tính. Chẩn đoán xác định sỏi tiết niệu chủ yếu dựa vào siêu âm hoặc chụp Xquang.
Theo Đông y, bệnh sỏi tiết niệu được gọi là thạch lâm, nguyên nhân hoặc do ngày thường ăn nhiều thức ăn cay nóng, hóa sinh thấp nhiệt, uất kết lâu ngày rồi dồn xuống bàng quang làm cho khí hóa trở trệ không thông; hoặc do phòng sự quá độ, thận âm hao tổn, âm hư hỏa động ảnh hưởng đến tác dụng khí hóa của bàng quang, làm cho tạp chất của nước tiểu kết lại mà thành sỏi.
Với Tây y, sỏi thận có thể được chữa bằng nội khoa, cơ bản là giảm đau, chống nhiễm khuẩn, điều chỉnh chế độ ăn uống và vận động hợp lý. Nhưng ngày nay sỏi tiết niệu chủ yếu được chữa bằng ngoại khoa với phương pháp khá hiệu quả là tán sỏi hoặc phẫu thuật lấy sỏi. Tuy nhiên, nhược điểm của các phương pháp này là không chữa được tận gốc nên sỏi lại tái phát.
Chữa sỏi thận bằng Đông y
Trong Đông y, tùy thể bệnh thấp nhiệt hay thận hư mà có các phương thuốc khác nhau.
Thể thấp nhiệt: Bệnh nhân có biểu hiện người trì trệ, nước tiểu vàng hoặc đỏ, đái đục có cặn, có sỏi, đau, nặng, tức vùng thắt lưng.
Thể này dùng phép thanh nhiệt hóa kiên làm chủ đạo. Các bài thuốc thường dùng là:
Bài 1: Kim tiền thảo 30g, quả dành dành 20g, vỏ núc nác 16g, hoa, lá mã đề 20g, xương bồ 8g, mộc thông 12g, tỳ giải 30g, cam thảo đất 16g, ý dĩ nhân 20g, quế chi 4g.
Cách dùng: Nếu tươi, tất cả rửa sạch, thái nhỏ, sao vàng, hạ thổ; nếu đã khô thì để nguyên, cho vào ấm đất với 4 bát nước, đun nhỏ lửa, còn 2 bát, chắt ra, cho nước sắc tiếp, mỗi lần lấy 1,5 bát, trộn chung cả 3 lần, chia uống nhiều lần trong ngày. Uống liên tục 2-3 tháng.
Bài 2: Mộc thông 12g, biển súc 12g, sa tiền tử 12g, hoạt thạch 12g, cù mạch 12g, sơn chi tử 12g, đại hoàng 8g, cam thảo 6g.
Cách dùng như trên.
 Xương bồ.
Thể thận hư: Ngoài các dấu hiệu nước tiểu vàng hoặc đỏ, đái đục có cặn, có sỏi, còn có biểu hiện người mệt mỏi, đau lưng, mỏi gối, ù tai, trì trệ, ngại vận động, có thể có di tinh, mộng tinh ở nam, rối loạn kinh nguyệt ở phụ nữ... Phương thuốc thường dùng là:
Bài thuốc: Tơ hồng (sao vàng) 30g, tỳ giải 30g, thổ phục linh 20g, mã đề 16g, hoài sơn (sao vàng) 30g, liên nhục 20g, thạch vĩ 12g, quy bản 10g.
Cách dùng như trên.
Trong nhân dân, người ta còn dùng kim tiền thảo hoặc hạt chuối hột sắc uống hằng ngày thay nước chè, nhiều khi cũng có tác dụng tốt.
Điều quan trọng là để đề phòng tái phát, bệnh nhân cần uống nhiều nước (1,5-2 lít/ngày), ăn nhiều rau, hoa quả tươi, tập thể dục đều đặn, tránh dùng các loại thức ăn, thuốc uống gây lắng đọng calci, tránh dùng sulfamid và khi có triệu chứng đau lưng, đái buốt, đái dắt... cần đi khám sớm tại các cơ sở y tế để điều trị kịp thời.

Các thuốc cần điều chỉnh ở bệnh nhân có bệnh thận mạn tính

Bệnh thận mạn tính có thể ảnh hưởng đến tất cả các khâu trong quá trình hấp thu, phân phối, chuyển hóa và đào thải thuốc, đặc biệt là quá trình đào thải. Việc dùng sai liều thuốc ở các bệnh nhân có rối loạn chức năng thận xảy ra tương đối phổ biến trong thực tế, điều này có thể gây tăng độc tính hoặc giảm hiệu quả điều trị của thuốc, thậm chí dẫn đến tử vong cho người bệnh. Khi sử dụng các thuốc được đào thải qua thận cho những bệnh nhân có bệnh thận mạn tính, cần điều chỉnh liều thuốc dựa vào mức lọc cầu thận. Phương pháp thường được sử dụng để điều chỉnh liều là giảm liều hoặc kéo dài khoảng thời gian giữa các liều dùng hoặc cả hai. Giảm liều dùng nhưng giữ nguyên khoảng cách giữa các liều dùng có thể duy trì được nồng độ thuốc ổn định trong máu nhưng làm tăng nguy cơ gây độc nếu thuốc được đào thải không kịp. Ngược lại, kéo dài khoảng thời gian giữa các liều dùng giúp giảm nguy cơ gây độc nhưng có thể gây giảm nồng độ thuốc trong máu, dẫn đến giảm hiệu quả điều trị.
Thuốc hạ huyết áp

Rối loạn sắc tố móng tay do zidovudine. 
Lợi tiểu thiazide là nhóm thuốc được lựa chọn hàng đầu trong điều trị cao huyết áp, nhưng nên giảm liều hoặc tránh sử dụng các thuốc này ở những bệnh nhân có suy thận mức độ trung bình đến nặng (mức lọc cầu thận dưới 30ml/phút). Các thuốc lợi tiểu giữ kali (như spironolactone, verospirone) cũng nên được dùng một cách hết sức thận trọng ở những bệnh nhân có bệnh thận mạn tính do có nguy cơ gây tăng nồng độ kali trong máu. Các thuốc ức chế men chuyển (như captopril, enanapril...) và chẹn receptor angiotensin II (như losartan, irbesartan...) có thể gây giảm mức lọc cầu thận khoảng 15% trong vòng 1 tuần sau điều trị, đặc biệt ở những bệnh nhân dùng liều cao hoặc phối hợp với các thuốc chống viêm giảm đau và thuốc lợi tiểu. Do đó, nên giảm liều hoặc tránh sử dụng các thuốc này ở những bệnh nhân có suy thận mức độ vừa và nặng. Ngoài ra, trong quá trình điều trị với 2 nhóm thuốc trên, nếu nồng độ kali máu tăng trên 5,6 mmol/ lít hoặc nồng độ creatinine máu tăng hơn 30% so với trước điều trị, cần ngưng dùng thuốc. Một số thuốc chẹn bêta giao cảm ưa nước như atenolol, bisoprolol, nadolol và acebutolol được đào thải chủ yếu qua thận, do đó, cần được điều chỉnh liều ở các bệnh nhân có bệnh thận mạn tính. Các thuốc hạ áp khác như metoprolol, propranolol, labetalol, các thuốc chẹn alpha giao cảm hoặc chẹn kênh canxi đều không cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân có bệnh thận mạn tính.
Thuốc hạ đường huyết
Metformin được đào thải 90-100% qua thận, do đó, nên tránh sử dụng thuốc này cho các bệnh nhân có suy thận và những người trên 80 tuổi. Việc dùng metformin ở những bệnh nhân suy thận mạn có thể làm tăng nguy cơ nhiễm toan lactic trong máu, đặc biệt khi bệnh nhân có nhiễm trùng, nhồi máu cơ tim, bệnh lý gan mật hoặc hô hấp kèm theo.
Một số thuốc hạ đường huyết trong nhóm sulfonylurea như chlorpropamide, glyburide cũng nên tránh dùng ở các bệnh nhân có suy thận độ 3 và 4, do thời gian bán thải của cả 2 thuốc đều bị kéo dài rõ rệt ở những bệnh nhân này, dẫn đến tăng nguy cơ hạ đường huyết.
Các thuốc kháng sinh
Rất nhiều loại kháng sinh được đào thải qua thận và do đó cần được điều chỉnh liều ở những bệnh nhân có bệnh thận. Tăng nồng độ của penicillin G và carbenicillin trong máu quá mức cho phép có thể gây nhiễm độc thần kinh cơ, rung giật cơ, co giật và hôn mê. Imipenem cũng có thể bị tích luỹ ở những bệnh nhân suy thận và gây co giật nếu không được giảm liều. Các dẫn xuất trong nhóm tetracycline, trừ doxycycline, đều có thể làm nặng tình trạng suy thận nếu được dùng ở những bệnh nhân có bệnh thận mạn tính. Nitrofurantoin có một chất chuyển hóa độc tính cao bị giảm đào thải ở những bệnh nhân suy thận, dẫn đến viêm thần kinh ngoại vi. Các kháng sinh aminoglycoside (như gentamycin, amikacin, streptomycin...) cũng nên tránh dùng ở những bệnh nhân có bệnh thận mạn. Nếu bắt buộc phải sử dụng, cần tính liều khởi đầu dựa vào mức lọc cầu thận và theo dõi chặt chẽ nồng độ thuốc trong máu.
Các dẫn xuất thuốc phiện: các chất chuyển hóa của các dẫn xuất thuốc phiện như meperidine, dextropropoxyphene, morphine, tramadol và codeine có thể bị giảm đào thải và tích lũy ở các bệnh nhân có bệnh thận mạn, gây ra các tác dụng ở hệ thần kinh trung ương và hô hấp. Do đó, nên tránh sử dụng nhóm thuốc này ở các bệnh nhân suy thận nặng. Ở những bệnh nhân suy thận với mức lọc cầu thận < 50 ml/ phút, liều của morphine và codeine cần giảm 50 - 75%, khoảng cách giữa các liều của tramadol cũng cần tăng lên 12 giờ và tramadol dạng phóng thích chậm nên tránh sử dụng.
Thuốc chống viêm giảm đau: các thuốc chống viêm giảm đau cổ điển như diclofenac, ibuprofen, indomethacine... có thể gây khá nhiều độc tính trên thận như suy thận cấp, viêm cầu thận, viêm thận kẽ, hội chứng thận hư hoặc suy thận mạn. Nguy cơ suy thận cấp ở những người có sử dụng các thuốc này cao gấp 3 lần so với những người không dùng thuốc. Các thuốc ức chế COX-2 chọn lọc như celecoxib, nimesulid cũng có nguy cơ gây độc thận tương tự các thuốc cổ điển. Nói chung, nên tránh dùng các thuốc này ở những bệnh nhân có bệnh thận mạn tính vì có thể làm tăng nặng tổn thương thận.
Các thuốc khác: một số thuốc khác cũng đòi hỏi phải giảm liều khi sử dụng ở những bệnh nhân có suy giảm chức năng thận là nhóm thuốc hạ mỡ máu statin (simvastatin, atorvastatin...), nhân sâm và một số loại thảo dược khác như cỏ linh lăng, bồ công anh...
BS. Nguyễn Hữu Trường (Bệnh viện Bạch Mai)

Bệnh thận liên quan tới loét chân do bệnh tiểu đường

Tiến sĩ David J. Margolis và cộng sự thuộc Trường đại học Pennsylvania (Mỹ) đã tiến hành nghiên cứu mối liên quan giữa bệnh thận mạn tính và loét chân/cắt cụt chân ở hơn 90.000 bệnh nhân bị bệnh tiểu đường, có tuổi từ 35 trở lên. Các xét nghiệm máu được sử dụng để xác định tình trạng bệnh thận mạn tính và mức độ trầm trọng của bệnh.
Kết quả cho thấy có 378 bệnh nhân bị cắt cụt ở vùng bàn chân và 2.619 bệnh nhân bị loét chân. So với người có chức năng thận bình thường, suy giảm chức năng thận nhẹ và vừa làm tăng tương ứng 1,51 lần và 3,22 lần nguy cơ loét bàn chân. Trong khi đối với nguy cơ cắt cụt chân, suy giảm chức năng thận nhẹ làm tăng 2,28 lần và suy giảm chức năng thận vừa tăng 8,05 lần.
Các nhà khoa học cho rằng cần tiến hành nghiên cứu thêm để tìm hiểu xem liệu các thuốc được chế tạo nhằm làm chậm tiến triển bệnh thận ở bệnh nhân tiểu đường sẽ có hiệu quả phòng ngừa loét/cắt cụt chân do bệnh tiểu đường hay không.
Anh Tú (Theo Diabetes Care,)

Xu thế hiện đại trong điều trị bệnh thận

Suy thận là vấn đề ngày càng trở nên phổ biến, có tính toàn cầu không chỉ với người làm y tế mà còn với cả cộng đồng. Bệnh thận thường là nguyên phát hoặc xuất hiện thứ phát. Trước đây là ở các bệnh do sỏi hay nhiễm khuẩn, sau này là các bệnh tim mạch, tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh chuyển hóa lipid, bệnh gút... Để phòng chống và điều trị được bệnh lý thận tiết niệu thì không chỉ ngăn chặn những bệnh gây ra tổn thương thận mà còn cần phát hiện sớm những tổn thương thận.
Để ngăn chặn sự tiến triển của bệnh thận trước hết phải làm sao để có thể phát hiện bệnh một cách sớm nhất.

 Tự lọc máu.
Phát hiện bệnh thận sớm bằng cách nào? Dựa vào hai chỉ số cơ bản nhất là huyết áp và albumin niệu qua đo huyết áp thường xuyên và xét nghiệm nước tiểu để tìm albumin niệu. Với người bệnh bình thường thì 6 tháng một lần nên xét nghiệm albumin niệu, nếu nó có biến loạn thì cần thiết phải làm xét nghiệm khác để đánh giá chức năng thận tiết niệu. Đối với tất cả những người có nguy cơ cao như tăng huyết áp, bệnh đái tháo đường, rối loạn chuyển hóa lipid, glucid hay người cao tuổi thì phải kiểm tra chức năng thận thường xuyên 3 tháng một lần.
Phân loại mức độ của suy thận
Trong giai đoạn đầu khi thận mới bị tổn thương, mức lọc cầu thận có thể bình thường hoặc tăng nhẹ trên 90 ml/ phút. Khi thận suy nhiều hơn, mức lọc cầu thận sẽ giảm dần và kèm theo những biến loạn lâm sàng và xét nghiệm khác. Chức năng thận suy nhẹ khi mức lọc cầu thận: 60 đến 89 ml/phút; suy vừa mức lọc cầu thận từ 30 đến 59 ml/phút; suy nặng mức lọc cầu thận từ 15 đến 29 ml/phút, và đến khi mức lọc cầu thận còn dưới 15 ml/ phút thì đó là suy thận rất nặng và bắt buộc phải điều trị thay thế lọc máu hoặc ghép thận.
Xu hướng hiện nay về điều trị bệnh thận
Thế kỉ XX, khi điều trị suy thận, người ta đặt song song cả vấn đề về điều trị bảo tồn, lọc máu tại bệnh viện, ghép thận. Nhưng từ những nghiên cứu mới sau này cộng thêm với sự phát triển kinh tế xã hội và lĩnh vực y tế thì từ năm 2000 trở về đây, xu hướng chung là làm thế nào điều trị dự phòng và kéo dài thời gian suy thận nhẹ và vừa, càng lâu càng tốt. Đối với bệnh nhân không thể điều trị kéo dài, cần điều trị sớm thì xu hướng ghép thận là tối ưu. Đối với vấn đề lọc máu là tăng cường tự lọc máu và giảm số lượng lọc máu tại bệnh viện. Tăng cường việc đào tạo cho bệnh nhân có thể nắm được tình trạng bệnh và có thể tự điều trị được, có thể tự lọc máu tại nhà.
Điều trị dự phòng sớm và duy trì mục tiêu điều trị
Hiện nay thầy thuốc cố gắng kéo dài thời gian điều trị bảo tồn cho người bệnh càng lâu càng tốt, từ khi tổn thương thận đến khi suy thận độ I, nhẹ nếu điều trị tốt có thể kéo dài 5 đến 10 năm, khi suy thận vừa đến nặng kéo dài 5 đến 10 năm. Như vậy nếu điều trị tốt có thể kéo dài thời gian sống của bệnh nhân không phải lọc máu tới 20-30 năm. Tư vấn và điều trị dự phòng bệnh nhân tốt sẽ giảm thiểu số lượng bệnh nhân phải lọc máu. Duy trì mục tiêu điều trị ở mức khống chế huyết áp dưới 130/80mmHg; Khống chế mức albumin niệu; thuốc sử dụng là ức chế men chuyển đổi angiotensin và ức chế phụ thể angidensin AT1.
Lọc máu hay ghép thận sớm khi có chỉ định thay thế
Thứ nhất là ghép thận với tất cả bệnh nhân có khả năng nếu có người cho. Đối với những người bệnh bắt đầu lọc máu thì nên được lọc máu sớm. Trước đây chúng ta chỉ định lọc máu khi mức lọc cầu thận dưới 10 ml/phút đối với bệnh nhân đái tháo đường, 8ml/phút đối với bệnh nhân không đái tháo đường. Nhưng ngày nay khi mức lọc cầu thận dưới 15ml/phút đã có chỉ định điều trị thay thế thận bao gồm ghép thận, lọc màng bụng, thận nhân tạo. Lọc máu sớm sẽ giúp chức năng thận còn lại duy trì cân bằng nội môi, tham gia các hoạt động nội tiết cũng như giảm các biến chứng lâu dài của người bệnh.
Tự lọc máu
Đối với bệnh nhân có điều kiện, có trình độ hiểu biết, bệnh nhân ở xa các trung tâm lớn thì phương pháp lựa chọn đầu tiên đó là lọc màng bụng hay thẩm phân phúc mạc. Trong lọc màng bụng hay thẩm phân phúc mạc thì ta có thể lựa chọn lọc màng bụng liên tục ngoại trú hay lọc màng bụng bằng máy. Hiện nay ở Việt Nam đã có 12 trung tâm tiến hành lọc màng bụng liên tục ngoại trú với hơn 900 bệnh nhân. Thứ hai là thận nhân tạo. Tốt nhất chúng ta lựa chọn tự thận nhân tạo bao gồm có lọc máu tại nhà. Phương án tối ưu là lọc máu hàng ngày, mỗi ngày 2h và 5 -7 ngày /tuần hoặc tối thiểu là 4h/lần, 3 đến 4 lần trong tuần. Còn đối với bệnh nhân không thể tự lọc máu được thì có thể lọc màng bụng hay thận nhân tạo tại bệnh viện hay tại nhà nhưng có sự giúp đỡ của đội ngũ nhân viên y tế. Với phương pháp tự lọc máu, không chỉ cải thiện được chất lượng cuộc sống, trả lại người bệnh cho cộng đồng mà về mặt y tế còn khống chế được huyết áp tốt hơn, sử dụng thuốc ít hơn, giảm biến chứng suy tim, giảm biến loạn về dinh dưỡng, tiêu hóa, thần kinh.
BS. Nguyễn Vinh Hưng

Suy thận có gây yếu xương?

Tôi 58 tuổi, bị suy thận mạn, nghe nói bệnh có thể làm yếu xương nên rất dễ gãy khi bị chấn thương. Vậy có cách nào để phòng tránh?
Nguyễn Quốc Cường (Ninh Bình)
Trong bệnh suy thận, chức năng của thận bị giảm sút dẫn đến xương bị loãng, yếu vì các nguyên nhân như sau: thận bị suy lâu ngày, không thải trừ được lượng phospho dư thừa ra ngoài qua nước tiểu, vì thế nồng độ phospho tăng cao trong máu gây rối loạn cân bằng các chất khoáng canxi và phospho, hậu quả là thiếu hụt canxi của xương; tuyến cận giáp trạng có chức năng giúp điều hòa canxi trong cơ thể, vì lượng canxi trong máu giảm nên tuyến này phải hoạt động mạnh lên và “huy động” canxi từ xương ra, làm cho canxi trong xương sẽ bị mất dần đi; chức năng thận bị suy giảm không thể biến đổi được vitamin D từ thức ăn sang dạng hoạt động nên cơ thể thiếu hụt vitamin D cũng làm cho xương bị yếu đi...
Muốn phòng tránh hoặc hạn chế quá trình yếu xương ở bệnh suy thận, bạn cần thực hiện các biện pháp: giảm lượng phospho trong khẩu phần ăn, cụ thể bổ sung vitamin D và canxi trong thức ăn hằng ngày; tập thể dục nâng cao thể trạng; phẫu thuật loại bỏ tuyến cận giáp.
BS. Ninh Hồng